13/11/08

Because you loved me

For all those times you stood by me
For all the truth that you made me see
For all the joy you brought to my life
For all the wrong that you made right
For every dream you made come true
For all the love I found in you
I'll be forever thankful baby
You're the one who held me up
Never let me fall
You're the one who saw me through through it all

You were my strength when I was weak
You were my voice when I couldn't speak
You were my eyes when I couldn't see
You saw the best there was in me
Lifted me up when I couldn't reach
You gave me faith 'coz you believed
I'm everything I am
Because you loved me

You gave me wings and made me fly
You touched my hand I could touch the sky
I lost my faith, you gave it back to me
You said no star was out of reach
You stood by me and I stood tall
I had your love I had it all
I'm grateful for each day you gave me
Maybe I don't know that much
But I know this much is true
I was blessed because I was loved by you

You were my strength when I was weak
You were my voice when I couldn't speak
You were my eyes when I couldn't see
You saw the best there was in me
Lifted me up when I couldn't reach
You gave me faith 'coz you believed
I'm everything I am
Because you loved me

You were always there for me
The tender wind that carried me
A light in the dark shining
your love into my life
You've been my inspiration
Through the lies you were the truth
My world is a better place because of you

You were my strength when I was weak
You were my voice when I couldn't speak
You were my eyes when I couldn't see
You saw the best there was in me
Lifted me up when I couldn't reach
You gave me faith 'coz you believed
I'm everything I am
Because you loved me

You were my strength when I was weak
You were my voice when I couldn't speak
You were my eyes when I couldn't see
You saw the best there was in me
Lifted me up when I couldn't reach
You gave me faith 'coz you believed
I'm everything I am
Because you loved me

I'm everything I am
Because you loved me



Artist: Celine Dion

10/11/08

081110. Study guide (Ý kiến của Nghiêm tiên sinh!)

1. Study guide (SG) ra đời hoàn toàn khách quan xuất phát từ mục tiêu đào tạo của trường ĐH. Nói cách khác, nó được sinh ra để phục vụ cho việc thực hiện các tiêu chí tốt nghiệp đối với sinh viên (graduate qualities). Giả sử như nếu như anh chưa đặt ra vấn đề lifelong learning, independent learning, cũng như nếu anh chưa có cơ chế giao quyền tự chủ cho giáo viên trong việc thiết kế nội dung và kịch bản tổ chức giảng dạy, thì việc cố gắng tạo ra cái SG là một việc làm không đem lại hiệu quả thiết thực.

2. Liên quan đến hướng giải quyết số 1 của bác, em nghĩ nếu chưa làm thì nên làm cho có hệ thống, không nên làm theo kiểu từng đoạn một như thế này (tức là ta mới thấy họ có SG, và thấy nó cần thiết, nó hay đối với SV tây, thế là ta tìm cách làm theo). Thế nào là có hệ thống? Tức là cần phải xây dựng chính sách vĩ mô cũng như triết lý đào tạo sao cho phù hợp với thực tế của ta và xu thế phát triển sắp tới (bao gồm cả yếu tố ngoại nhập).

Ví dụ: em thấy cái cách mà ta tổ chức soạn mới đề cương môn học theo hướng đã làm là một cách tiếp cận phù hợp với điều kiện của ta, cụ thể là phù hợp với yêu cầu cần có đối với giáo viên của ta, và phù hợp với văn hóa và phong cách học tập của sinh viên ta.

Vì sao nó phù hợp?

TT

Thực tế

Đề cương mới

1.

Giáo viên từ lâu mơ màng về mục tiêu của môn học, nhất là chuyện đặt mục tiêu cho từng bài học

Đánh trúng điểm yếu này, giáo viên buộc phải tư duy một cách cụ thể và rõ ràng --> phải đọc và tham khảo nhiều --> tốt cho tất cả

2.

Sinh viên chưa thực sự quen với khái niệm tự học cũng như việc tự học

Đã có hướng dẫn cụ thể. Đồng thời thời lượng cho nội dung này cũng không quá nhiều, phù hợp với việc xây dựng thói quyen và phong cách học mới cho SV

3.

SV chưa biết cách chủ động tìm kiếm thông tin (học liệu) phục vụ cho việc đọc và học mở rộng

Nói cách khác, yếu về kiến thức thông tin

Yêu cầu GV phân loại tài liệu rõ ràng: bắt buộc và đọc thêm. Cách làm này rất phù hợp với SV ở ta do các em chưa có kỹ năng thông tin tốt, cần có sự hướng dẫn (TL bắt buộc), nhưng vẫn mở ra cơ hội để các em sáng tạo, mở rộng.

Bên cạnh đó, 1 lần nữa giáo viên phải chủ động hệ thống lại nguồn học liệu của mình. Đây cũng là cách chia sẻ học liệu do không ít giáo viên có xu thế xây dựng tủ sách riêng mình, họ sưu tập được nhiều tài liệu tốt nhưng khó mà kiếm được ở thư viện (Nhất là đối với SV)

4.

Cách đánh giá bấy lâu nặng về học thuộc --> SV sẽ học thụ động

Đề cương mới đã buộc phải giáo viên phải cân nhắc chuyện này. Rõ ràng, đã có rất nhiều hình thức kiểm tra đánh giá đã được áp dụng khiến cho sinh viên có thái độ chủ động hơn đối với việc học và giáo viên phải chủ động hơn đối với việc dạy

3. Từ những phân tích ở ví dụ trên, có thể thấy việc phát triển SG từ đề cương môn học hiện tại (thậm chí là sự CHI TIẾT HÓA) là cách làm có thể phù hợp với điều kiện của ta. Do:

- Bản chất của nó đã chứng minh có nhiều điểm phù hợp với văn hóa dạy – học ở ta, cho dù giáo viên phải tự thay đổi nhiều. Quan trọng nhất là nó đã hướng nhiều hơn đến sinh viên (student-centered approach). Giáo viên, dù phải thay đổi ít nhiều, nhưng đó cần phải được xem là đòi hỏi của nghề nghiệp, “to change or not to be”.

- Vấn đề đặt ra: Trường ta có dám mạnh dạn làm chuyện đó không? Mạnh dạn theo 2 nghĩa: dám trao quyền cho giáo viên và bộ môn + dám đầu tư tài chính để phục vụ việc thay đổi đó. Nếu câu trả lời là “không” đối với 1 trong 2 vế trên (chứ chưa nói cả 2 nhé) thì tính khả thi của câu chuyện SG gần như zero.

4. Mục tiêu: của việc xây dựng SG:

- Không tạo ra quá nhiều thay đổi do GV và SV cũng đang quá chóng mặt với những thay đổi hiện nay, nếu không sẽ phản tác dụng (do đó, chỉ cần chi tiết hóa đề cương môn học cũng đã là thành công rồi)

- Sớm áp dụng được ngay

- Tạo được sự thống nhất ban đầu giữa Tiêu chí tốt nghiệp – Tổ chức dạy và học – Kiểm tra đánh giá. Mục tiêu là để cả thầy và trò ý thức rõ được nhiệm vụ của mình khi tham gia môn học, cũng như trong từng buổi học.

5. Lộ trình

- Xắn tay triển khai xây dựng các tiêu chí tốt nghiệp (như một dạng cam kết về chất lượng đào tạo của trường). Như em đã nói, làm mới thì phải làm cho có hệ thống. Đồng thời xây dựng các bản ghi nhớ hợp tác với các đơn vị có liên quan thư Thư viên ĐHQG, các Thư viện ĐH khác có chuyên môn gần để khai thác tối đa nguồn học liệu. Xem xét cả đề án thành lập Learning Connection.

- PR. Nói ngắn gọn thì là PR, nhưng trừu tượng quá. Chốt lại vẫn là vấn đề con người. Giáo viên ai cũng nhận thấy sinh viên ra trường thường thích nghi kém khi rơi vào những môi trường làm việc khác nhau. Tuy nhiên họ có sẵn sàng giúp SV sửa điểm yếu ấy? Nó có dốc lòng cùng xây dựng thương hiệu cho Trường (và cũng là thương hiệu của họ)? Quan trọng nhất là giáo viên, họ không muốn thay đổi thì không có cách gì thay đổi hệ thống được. Hơn nữa, họ phải làm việc ấy một cách tự giác.

- Lập dự án hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất và các cam kết khác về mặt cơ chế

- Triển khai mẫu. Ban đầu có thể giao cho các bộ môn đứng ra thực hiện. Ông chủ nhiệm bộ môn sẽ là người chịu trách nhiệm chính

- Đánh giá – rút kinh nghiệm

- Đại trà

6. Em sorry là có lẽ chưa đưa ra được nhiều thông tin một cách cụ thể. Việc này thú thực cũng nằm ngoài khả năng của em. Chúng mình đều đã học Triết học ML và đều thấm nhuần rằng: CSHT quyết định kiến trúc thượng tầng. Cái mà chúng mình đang làm là kiến trúc TT đấy. Không thể “xây nhà từ nóc” (Alfred Riddle) được, bác công nhận không? Thú thực là em nghĩ nhiều hơn đến cái móng, nơi vốn dĩ chúng mình hơi ít để ý đến, hoặc tưởng là mình đang đứng trên một cái móng ngon lành có thể xây mọi loại nhà lên đấy.

Em xin hết :D

9/11/08

Ngẫu hứng chủ nhật

Ngày chủ nhật,

đọc status của bạn Thịnh (SELAB): "Không có ai ở trên mạng ah?".

Ngẫu hứng nè:


Có tôi mỗi ngày vẫn nhớ em

Vẫn biết rằng em đêm sáng đèn

Vẫn biết rằng em quên ngày nghỉ

Đem niềm vui đến với người quen




Dẫn nhập tử tế, không thì.....!!????

8/11/08

081108. Study guide

SO SÁNH GIỮA TRƯỜNG TA VỚI TRƯỜNG TÂY

TRONG DẠY – HỌC THEO TÍN CHỈ


NỘI DUNG

TRƯỜNG TÂY

TRƯỜNG TA

Tỷ lệ loại giờ tín chỉ

Giờ lý thuyết <>

Giờ lý thuyết > Giờ thảo luận > Giờ tự học

Điều kiện thực hiện tỷ lệ đó

+ CTĐT có thời lượng phù hợp

+ Học liệu tốt, CSVC tốt, nhân lực giảng dạy đủ (GV, trợ giảng) với thù lao thỏa đáng đối với GV

+ Chính sách KT – ĐG hướng về tự học

+ Quy mô lớp thảo luận phù hợp

+ PP học tập của SV dựa trên sự chủ động cao, kỹ năng tự học tốt

+ Hệ thống hỗ trợ GV tốt (phòng làm việc, website môn học…); hỗ trợ SV tốt (Learning connection center, thư viện, tư vấn của GV…

Trường ta đều có câu trả lời ngược lại. Hic hic! Tất nhiên, mới bắt đầu vào còn trong tiến trình nên ko tránh khỏi.

Study guide

- Mỗi trường mỗi khác. Cùng trường nhưng mỗi môn mỗi khác (do tính chất của môn học quy định?), không phải môn nào cũng có. Mỗi bậc học mỗi khác. Xuất hiện nhiều ở bậc sau đại học.

- Cốt lõi study guide:

+ Học nội dung mà GV yêu cầu như thế nào?

+ Mở rộng nội dung môn học (ngoài những gì GV yêu cầu) ra sao?

+ …..

- (cảm nhận) GV soạn ra study guide để thay mình đồng hành cùng SV trong thời gian tự học và coi đó là 1 cam kết của GV với việc học của SV

- Study guide link với các nguồn học liệu khác (thư viên, internet…) rất tốt, giúp SV cập nhật kiến thức kịp thời.

Chưa có công cụ này


VẤN ĐỀ

1. Ta theo Tây nhưng điều kiện chưa được như họ. Vậy nên bài học làm theo các nước tiên tiến trong quá trình chuyển đổi hay tổn thất đã gặp quá nhiều. Trong trường hợp này, vấn đề đặt ra là, ta giảm thời gian lên lớp xuống (bình quân là 1/3) và coi thời gian giảm đó để:

- SV tự học

- GV đánh giá việc tự học của SV

nhưng SV tự học bằng cách nào? có điều kiện gì hỗ trợ? có môi trường học tập ntn để thực hiện được? còn với GV, đánh giá tự học của SV là đánh giá cái gì? Bằng cách nào? tổ chức việc đánh giá ntn? Hướng dẫn SV tự học ra sao để có cái mà đánh giá?

2. Tình trạng hiện nay là rút bớt thời lượng rồi, nhưng GV bảo SV tự học, tự học nữa, tự học mãi mà cũng không tường minh được tự học ntn? Lộ trình tự học của môn học ra sao? Trọng số đánh giá cái tự học này ntn?.... Túm lại, Thầy mới chủ trương chứ chính Thầy cũng chưa có công cụ hỗ trợ cho chính mình, chưa nói đến cho SV.


HƯỚNG GIẢI QUYẾT

1. Tăng cường chính sách và công cụ. Trước mắt, trường TA nên tập trung vào việc biên soạn các tài liệu hướng dẫn SV tự học (tương tự như study guide???) và các bộ học liệu của môn học

2. Về chính sách thúc đẩy thực hiện chủ trương này:

- Xây dựng nhóm nòng cốt ở các khoa để thực hiện theo lộ trình: Thí điểm – Rút kinh nghiệm – Nhân rộng

- Hỗ trợ về tài chính cho GV thực hiện

- Khen thưởng với ai làm tốt? Trả thù lao cao hơn khi có áp dụng công cụ này trong dạy – học?

- Truyền thông để GV hiểu rõ những hướng dẫn SV tự học là cái vẫn có ở GV nhưng lâu nay chỉ để ở trong đầu GV thôi, nay soạn ra cho tường tận để dễ sử dụng, dễ cập nhật và SV có công cụ để học.


CÂU HỎI

Vậy study guide trong điều kiện của ta như nói ở trên có mô hình ntn? Cần đạt mục tiêu gì? Triển khai theo lộ trình nào để cả GV, SV thích ứng kịp và phù hợp với điều kiện hiện có?

5/11/08

081105. Suy nghĩ


1. Điều kiện để tổ chức thi theo tín chỉ:
- Chương trình đào tạo
- Số lượng SV dự thi
- Số lượng CBCT
- Cơ sở vật chất
- Khung thời gian tổ chức thi
- Bộ phận tổ chức thi chuyên trách và chuyên nghiệp??? Phòng KHẢO THÍ

2. Xếp lịch thi như thế nào?
- Các kịch bản
- Nguyên lý "lấy riêng" làm gốc, "không riêng có chung", "nhiều riêng một lịch", "riêng - chung lộn ngược"
- Giãn cách và điều chỉnh: Ca thi "phao cứu sinh"

Mời bà còn nhào dzô bình luận đê!!!!