15/01/2012

10 kỹ năng mềm để sống và làm việc hiệu quả

Năm nào nước ta cũng có rất nhiều giải vàng, giải bạc quốc tế - điều mà nhiều nước trong khu vực phải ghen tị. Nhưng mỗi khi nói về năng lực của lao động VN thì chắc chắn chúng ta dừng ở một vị trí đáng buồn. Tại sao lại thế? Rõ ràng là có một khoảng hẫng hụt lớn giữa cái được dạy và nhu cầu xã hội, thực tế sản xuất kinh doanh.

Trong hội nghị với bộ Đại học, UNESCO đề xướng mục đích học tập: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Trường học chúng ta hiện đang nặng về học để biết, nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu của UNESCO.


Ngân hàng Thế giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng - Skills Based Economy (http://www.librarything.com/work/5395375). Năng lực của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Các nhà khoa học thế giới cho rằng: để thành đạt trong cuộc sống thì kỹ năng mềm (trí tuệ cảm xúc) chiếm 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15% (http://www.softskillsinstitution.com/faq.htm).


Chúng ta đã bước vào thế kỷ 21 đã 10 năm, thế mà chương trình đào tạo và việc đánh giá năng lực của học sinh, sinh viên vẫn dựa chủ yếu vào kiến thức. Peter M. Senge nói “Vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đối thủ”. Rõ ràng muốn tăng cường năng lực cạnh tranh chúng ta không những phải học nhanh mà phải học đúng.


Ngày xưa, nhà trường là nơi duy nhất để ta có thể tiếp cận với kiến thức. Thế giới ngày càng phẳng hơn, nhờ internet mọi người đều có thể tiếp cận được thông tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi. Kiến thức ngày càng nhiều và từ việc có kiến thức đến thực hiện một công việc để có kết quả cụ thể không phải chỉ có kiến thức là được. Từ biết đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất lớn. Vậy câu hỏi đặt ra là: “Kỹ năng nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”


Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.S. Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:

1. Kỹ năng học và tự học (learning to learn)

2. Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)

3. Kỹ năng thuyết trình (Oral communication skills)

4. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)

5. Kỹ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills)

6. Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem)

7. Kỹ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc (Goal setting/ motivation skills)

8. Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal and career development skills)

9. Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills)

10. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)

11. Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)

12. Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness)

13. Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills)


Năm 1989, Bộ Lao động Mỹ cũng đã thành lập một Ủy ban Thư ký về Rèn luyện các Kỹ năng Cần thiết (The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills - SCANS). Thành viên của ủy ban này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, kinh doanh, doanh nhân, người lao động, công chức… nhằm mục đích “thúc đẩy nền kinh tế bằng nguồn lao động kỹ năng cao và công việc thu nhập cao”. (http://wdr.doleta.gov/SCANS/)


Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (the Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002). Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có. Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng như sau:

1. Kỹ năng giao tiếp (Communication skills)

2. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork skills)

3. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)

4. Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)

5. Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills)

6. Kỹ năng quản lý bản thân (Self-management skills)

7. Kỹ năng học tập (Learning skills)

8. Kỹ năng công nghệ (Technology skills)

(Nguồn: http://www.acci.asn.au/text_files/issues_papers/Employ_Educ/ee21.pdf)


Chính phủ Canada cũng có một bộ phụ trách về việc phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada - HRSDC) có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống. Bộ này cũng có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiết đối với người lao động. Conference Board of Canada một tổ chức phi lợi nhuận của Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như năng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng. Tổ chức này cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills 2000+) bao gồm cá kỹ năng như:

1. Kỹ năng giao tiếp (Communication)

2. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving)

3. Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes and behaviours)

4. Kỹ năng thích ứng (Adaptability)

5. Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)

6. Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (Science, technology and mathematics skills)

(Nguồn: http://www.dest.gov.au/NR/rdonlyres/4E332FD9-B268-443D-866C-621D02265C3A/2212/final_report.pdf)


Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được chính chủ thành lập từ ngày 28/6/2007, đến tháng 6/2009 thì được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng. Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một phần của giáo dục nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới. (Nguồn: http://www.dius.gov.uk/). Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng bao gồm:

1. Kỹ năng tính toán (Application of number)

2. Kỹ năng giao tiếp (Communication)

3. Kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cá nhân (Improving own learning and performance)

4. Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and communication technology)

5. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving)

6. Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)


Chính phủ Singapore có Cục phát triển lao động WDA (Workforce Development Agency) WDA đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng (http://wsq.wda.gov.sg/GenericSkills/):

1. Kỹ năng công sở và tính toán (Workplace literacy & numeracy)

2. Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information & communications technology)

3. Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định (Problem solving & decision making)

4. Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative & enterprise)

5. Kỹ năng giao tiếp và quản lý quan hệ (Communication & relationship management)

6. Kỹ năng học tập suốt đời (Lifelong learning)

7. Kỹ năng tư duy mở toàn cầu (Global mindset)

8. Kỹ năng tự quản lý bản thân (Self-management)

9. Kỹ năng tổ chức công việc (Workplace-related life skills)

10. Kỹ năng an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe (Health & workplace safety).

Trong WDA còn có Trung tâm kỹ năng hành nghề (The Centre for Employability Skills (CES)) để đánh giá hệ và hỗ trợ đào tạo kỹ năng.


Ở Việt Nam, các kỹ năng chưa được chú trọng trong hệ thống giáo dục cũng như trong cuộc sống. Hình như nền giáo dục của chúng ta đang dựa trên một giả định “người ta biết thì người ta sẽ làm được”. Và vì vậy họ cứ cố dạy cho học sinh, sinh viên thật nhiều kiến thức hòng làm được việc khi ra trường. Nhưng thực tế đâu có vậy, từ biết đến hiểu là một khoảng cách rất xa, và từ hiểu đến làm việc chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách còn xa hơn nữa. Điều này dẫn đến một thực trạng là sinh viên khi ra trường biết nhiều kiến thức nhưng lại không có khả năng làm việc cụ thể. Chỉ vài năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng mới nhắc nhiều đến cụm từ “kỹ năng” và “kỹ năng mềm”.


Kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định. Các kỹ năng có thể là kỹ năng nghề nghiệp (các kỹ năng kỹ thuật cụ thể như hàn, tiện, đánh máy, lái xe, lãnh đạo, quản lý, giám sát…) và kỹ năng sống (các kỹ năng giao tiếp, ứng xử, tư duy, giải quyết xung đột, hợp tác, chia sẻ…). Mỗi người học nghề khác nhau thì có các kỹ năng khác nhau nhưng các kỹ năng sống là các kỹ năng cơ bản thì bất cứ ai làm nghề gì cũng cần phải có.


Chúng ta tự hào về nguồn lao động dồi dào. Nhưng đó mới chỉ là số lượng. Chất lượng lao động mới là vấn đề đáng bàn. Theo bà Nguyễn Thị Hằng (nguyên Bộ trưởng Bộ LĐ, TB & XH, Chủ tịch hội dạy nghề VN), hiện nay, Việt Nam còn đến hơn 50% lao động trong tổng số hơn 10 triệu lao động chưa qua đào tạo cơ bản chính quy, mà chủ yếu là vừa học vừa làm hoặc làm những công việc đơn giản. Điều đó cho chúng ta thấy bức tranh tổng thể về kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động không có gì là sáng sủa cho lắm và còn nhiều việc phải làm để có một bức tranh tươi sáng hơn. Điều tối thiểu phải biết (nhưng lại không phải ai cũng biết), là xã hội bây giờ sử dụng sản phẩm dùng được, chứ không sử dụng khả năng hay bằng cấp của con người. Anh không có kỹ năng đánh máy, thì có thuộc lòng 10 quyển sách về Microsoft Office cũng vô nghĩa. Anh không thiết kế nổi một cái nhà bình thường 3 tầng, thì có tốt nghiệp xuất sắc trường Kiến trúc cũng vô nghĩa.


Tổng hợp các nghiên cứu của các nước và thực tế VN, 10 kỹ năng sau là căn bản và quan trọng hàng đầu cho người lao động trong thời đại ngày nay:

1. Kỹ năng học và tự học (Learning to learn)

2. Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership & Personal branding)

3. Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)

4. Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills)

5. Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)

6. Kỹ năng thuyết trình (Presentation skills)

7. Kỹ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills)

8. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)

9. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)

10. Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)


Như vậy ngoài những kiến thức chuyên môn, người lao động cần phải được trang bị thêm các kỹ năng hành nghề để đảm bảo có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Lâu nay chúng ta chỉ nghĩ đến xuất khẩu lao động, nhưng một thực tế mới đang thách đố người lao động VN là trong thời kỳ khủng hoảng người nước ngoài đang đến tranh chỗ làm việc của ta. Chúng ta có thể bị thua ngay trên sân nhà.


Rõ ràng 10 kỹ năng mềm thiết yếu này không những chỉ giúp người lao động nâng cao năng suất, hiệu quả công việc mà thực chất là giúp ích rất nhiều trong mọi khía cạch cuộc sống ở gia đình ngoài xã hội tại công sở, nâng cao đáng kể chất lượng cuộc sống và văn hóa xã hội, góp phần thay đổi diện mạo con người VN.


Học hỏi kinh nghiệm từ các nước công nghiệp tiên tiến, nhà nước cần phải xây dựng một chương trình quốc gia về kỹ năng mềm, thành lập một cơ quan chuyên trách xây dựng hệ thống kỹ năng, đào tạo và giám sát chất lượng năng lực của lực lượng lao động. Chúng ta đã bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức. Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức thì nguồn vốn con người là quan trọng nhất. “Không thể giải quyết vấn đề mới bằng chuẩn mực cũ” Không thể ngồi hô hào về cải cách giáo dục mà phải có biện pháp cụ thể để nâng cao năng lực của mỗi người dân, nâng cao năng lực cạnh tranh của VN.


Phan Quốc Việt

http://dantri.com.vn/c20/s202-347212/top-10-ky-nang-mem-de-song-hoc-tap-va-lam-viec-hieu-qua.htm


21/08/2011

Bất lực - Bất mãn - Bất phục

Bài phát biểu của TGĐ FPT Nguyễn Thành Nam tại cuộc họp lãnh đạo nhân dịp tổng kết quý I/2010 của FPT Software:

FPT đang đặt ra những mục tiêu lớn.

Để đạt được earning 6.000 tỷ VND vào năm 2014 như anh Bình đã phát biểu trong ĐHCĐ, chúng ta cần có tốc độ tăng trưởng earning toàn tập đoàn là 47% hàng năm.

Để trở thành đế chế như Samsung, FPT phải giữ được tốc độ này trong 15 năm. FPT Software là một trong những công ty đầu tàu, càng phải phát triển hơn nữa.

Có rất nhiều điều cần phải làm, nhưng tôi chỉ muốn nhắc đến 3 trạng thái mà các cán bộ lãnh đạo FPT Software phải luôn quan tâm khắc phục nhanh.

Bất lực

Là trạng thái mà cán bộ bó tay nhìn sự việc xảy ra, không có những hành động quyết liệt hoặc thậm chí biện hộ bằng kêu cứu "hệ thống, cơ chế" hoặc đá bóng 1 chạm cho cấp dưới.

Tác hại: Sự việc hiếm khi được giải quyết đến cùng. Trình độ cán bộ suy giảm dần.

Nguyên nhân của bệnh này là cán bộ không sâu, ngại khó, nắm không vững tình hình, thiếu cái "dũng" của người lãnh đạo.

Thuốc chữa: Nhắm mắt xông vào. Nếu không giải quyết được vấn đề thì trạng thái tâm lý của nhân viên dưới quyền cũng được cải thiện đáng kể. Ngay trong y học, người ta cũng đã chứng minh rằng khả năng chữa bệnh được tăng lên đến 40% nhờ trạng thái tâm lý tốt của bệnh nhân.

Bất mãn

Là trạng thái không hài lòng với mọi người xung quanh, với cấp trên, với đồng nghiệp, với hệ thống, luôn cho là mình không được đánh giá xứng đáng.

Tác hại: Ảnh hưởng nặng nề đến nhân viên, giảm năng suất lao động.

Nguyên nhân của bệnh này: Chủ quan thường là do trạng thái sức khỏe kém, hoặc không theo kịp những thay đổi xung quanh. Khách quan thì thường là do bị sếp trên/khách hàng chê nhiều, gặp thất bại liên tiếp.

Thuốc chữa: Chăm chỉ rèn luyện thân thể, lạc quan, nói thẳng vấn đề, tìm người chia sẻ.

Bất phục

Là trạng thái không tuân lệnh, hoặc tuân lệnh nhưng trong lòng không phục, làm cho xong.
Tác hại: Không bộc lộ rõ vấn đề, năng suất lao động thấp, thiếu sự tin tưởng giữa các cấp.

Nguyên nhân: Thường do bị giáo dục định kiến theo kiểu phong kiến, cấp trên là thượng cấp, phải toàn tài, phải tâm phục, khẩu phục.

Thuốc chữa: Luôn giữ thế chủ động cho bản thân. Nhận việc ngay, phân tích kỹ, sẵn sàng từ chối.

Nguyễn Thành Nam

Thứ 5, 29/04/2010 03:12 PM

31/07/2011

Chuỗi cung ứng và hệ lụy đối với công nghiệp hóa

(VEF.VN) - Toàn cầu hóa, mà biểu hiện của nó là các chuỗi cung ứng đem lại những mô hình kinh tế mới và tác động mạnh đến công nghiệp hóa (CNH) trong các nước đang phát triển. Các nước này bị bối rối vì CNH thì bế tắc nhưng chưa từ bỏ được do chưa tìm ra mô hình phát triển mới.

Nếu chần chừ lâu trong thế lưỡng nan này, họ có thể vừa thất bại trong CNH, vừa không bước kịp lên đoàn tàu kinh tế của thế giới.

Công nghiệp hóa

CNH xảy ra một phát triển tự nhiên ở Anh, Đức, Pháp, Mỹ... Nhưng khoảng sau thế chiến thứ 2, nhiều nước đã đưa ra các chính sách công nghiệp (industrial policy) để chủ động phát triển công nghiệp với "bàn tay hữu hình" (visible hand) của nhà nước. Các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, coi CNH là mô hình phát triển tất yếu cho tất cả các nước. Nhiều nước áp dụng CNH mà không còn biết lý do nguyên thủy của nó và các yếu tố đã sinh ra nó và để nó hoạt động được. Bối cảnh mới đòi hỏi phải xem lại những yếu tố điều kiện cho CNH còn, mất, thay đổi thế nào và thoát ra khỏi tư duy "đường mòn", giáo điều, để thực sự tìm ra mô hình phát triển thích hợp.

CNH ở các nền kinh tế tập trung có những đặc trưng như: - Dựa vào vốn, coi vốn và tích lũy vốn là yếu tố chính trong CNH; - Lao động ở đây là lao động giản đơn, dựa trên sức lao động chứ chưa phải dựa trên tri thức; - Coi công nghiệp nặng là tất yếu và điều kiện tiền đề;

- Chú trọng tới tính cân đối quốc gia và khả năng tự lập của nền kinh tế, vv.

Trong bối cảnh lúc đó, nhà nước chủ động CNH nhờ sở hữu các ngành công nghiệp quan trọng, nắm hoàn toàn thị trường trong nước, bảo hộ thị trường nội địa, các mệnh lệnh hành chính..v..v.

Cạnh tranh giữa các nước dần được thay thế bằng cạnh tranh giữa các chuỗi cung ứng.

CNH ở các nước này dựa vào phát triển tất cả các ngành của nền kinh tế theo chiều dọc (vertical development) với tất cả công đoạn từ thiết kế, khai thác, sơ chế, sản xuất, kho vận, tiếp thị, bán hàng trong nước hay xuất khẩu. Điều này tạo ra một nền kinh tế có tính cân đối giữa các ngành (industies, sectors),độc lập, ít phụ thuộc bên ngoài. Với sự tập quyền cao, nhà nước có thể duy trì, cân đối được một nền kinh tế dựa trên nguyên nhiên, vật liệu, nhà sản xuất, người tiêu dùng... thuần túy từ các yếu tố nội địa (và người tiêu dùng cũng không còn sự lựa chọn nào khác ngoài các sản phẩm này).

Các chuỗi cung ứng toàn cầu

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ 20, sự mở cửa hầu hết các thị trường với những định chế mới, sự bùng nổ các ứng dụng của công nghệ thông tin đã đem lại cho sản xuất - kinh doanh trên quy mô toàn cầu lợi nhuận vượt trội. Các quy trình, công đoạn sản xuất - kinh doanh của mọi sản phẩm, dịch vụ được thiết kế để trở nên vô cùng "lỏng lẻo", như những modules có thể tháo ra, lắp vào, ghép đoạn nọ với đoạn kia ở các lục địa khác nhau một cách dễ dàng, chứ không còn nằm trong một nước hay trong một công ty nữa.

Các công ty đa quốc gia ồ ạt cầu trúc lại tổ chức - hoạt động của mình trên bình diện toàn cầu, phần để tối ưu hóa quá trình sản xuất - kinh doanh, phần để chiếm thị trường nước ngoài. Một quá trình toàn cầu hóa sâu rộng diễn ra và kéo hầu hết các nước vào vòng xoáy của nó. Một quá trình tái thiết kế quy trình sản xuất - kinh doanh (hay chuỗi cung ứng) của toàn bộ các sản phẩm trên thế giới đã xảy ra. Người ta nói đến việc "vẽ" lại bản đồ công nghiệp của thế giới. Các chuỗi cung ứng trải rộng trên thế giới, xuyên qua các quốc gia, châu lục, như những lát cắt xẻ dọc các đường biên... Cạnh tranh giữa các nước dần được thay thế bằng cạnh tranh giữa các chuỗi cung ứng. Nhiều chuỗi cung ứng có "GDP" lớn hơn một số quốc gia phát triển.

Chuỗi cung ứng và hệ lụy đối với CNH ở các nước đang phát triển

Ngày nay, nhà nước thấy không nên (và cũng không thể) nắm độc quyền kinh tế. Họ không còn toàn quyền lực về sản xuất - kinh doanh, điều tiết thị trường, sở hữu, dòng vốn... Vì các tối ưu lấy từ phạm vi một nước không thể bằng các tối ưu trên quy mô thế giới nên các sản phẩm của nước "đóng cửa" sẽ không cạnh tranh nổi với sản phẩm của các chuỗi cung ứng đa quốc gia.

Khi mở cửa thị trường (điều không tránh khỏi), họ sẽ không bán được sản phẩm ngay ở nội thị. Các liên kết (linkages) giữa các bên tham gia thị trường là do mệnh lệnh mà có nên không còn mang tính ràng buộc bởi giá trị thực: mọi tương hỗ giá trị đã bị "méo mó" (distorted). Liên kết giữa khâu sản xuất với khâu kinh doanh trở nên "lỏng lẻo" hơn mối liên kết giữa các khâu này với chuỗi cung ứng bên ngoài. Các nhà sản xuất không thiết lập, chăm sóc các bên cung ứng nội địa (domestic suppliers), ví dụ nhà nông, và không thể trả giá cao hơn các chuỗi cung ứng bên ngoài nên không mua được nguyên vật liệu từ họ.

Chuỗi cung ứng bên ngoài với công nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao hơn, kỹ năng quản lý chuỗi cung ứng chuyên nghiệp hơn nên sẽ chịu trả giá cao hơn cho nguyên vật liệu. Kết quả là: các chuỗi cung ứng nội địa đã bị "xé lẻ" bởi các chuỗi cung ứng nước ngoài. Hội nhập hay không trở thành tiêu chí quan trọng tạo ra sự khác biệt đáng kể về kinh tế giữa các các nước. Thuật ngữ "nhà nước quốc gia" (nation states) của Thomas Friedman xuất hiện phần nào từ bối cảnh này.

Các chuỗi cung ứng sẽ nhanh chóng tìm ra trên thế giới các công đoạn tốt hơn, rẻ hơn để ghép vào chuỗi của mình. Chuỗi cung ứng sẽ thuê làm các công đoạn (out-sourcing, thuê khoán ngoài) để sản phẩm của họ được rẻ nhất, tối đa lợi nhuận. Dù ta muốn hay không, các chuỗi cung ứng mạnh sẽ mua, thuê các công đoạn (hay nguyên liệu) rẻ nhất của ta. Lúc này, mọi doanh nghiệp, tư nhân hay nhà nước, sẽ chọn "bán" công đoạn cho nơi trả cao nhất.

Ta không làm trọn một sản phẩm (như đến nay vẫn làm) mà chỉ làm được một (vài) công đoạn mà ta làm tốt nhất.

Việc các tập đoàn kinh tế nhà nước, mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực béo bở nhưng không được nhà nước giao là ví dụ cụ thể. Các ưu đãi về CNH không thể đem lại lợi nhuận bằng đầu tư nước ngoài (FDI). Luật Doanh nghiệp không ngăn họ chọn lợi nhuận. Các ưu tiên về đất đai, vốn, cơ sỏ sản xuất,... cho những dự án CNH sẽ trở nên lãng phí và doanh nghiệp sẽ dùng cho việc tạo ra lợi nhuận cho riêng họ. Các hàng rào thuế nhập khẩu cao nhằm bảo hộ tnhà sản xuất nội địa, ôtô chẳng hạn, sẽ "nuôi béo" đầu tiên các doanh nghiệp FDI nước ngoài. Ngay cả khi nhà nước đầu tư xây nhà máy, mua công nghệ cho chương trình CNH thì doanh nghiệp cũng sẽ dùng các đầu tư này theo cách có lợi cho họ.

Việc mở rộng các chuỗi cung ứng ngoại chủ yếu là phát triển theo chiều ngang (horizontal development), tức là: không thêm các công đoạn vào chuỗi giá trị mà chỉ mở thêm cơ sở sản xuất hay tăng số lượng nhà cung ứng. Chỉ phát triển theo chiều ngang làm các nước không thiết lập được các ngành công nghiệp hoàn chỉnh như mục tiêu của CNH.

Ngoài ra, thay vì các ngành có mối liên kết, cân đối hợp lý với nhau, họ lại chỉ có những cơ sở kinh tế "lỗ chỗ", không đồng bộ, thậm chí không phải của mình, mà lại gắn với các chuỗi cung ứng bên ngoài. Kết quả ngành công nghiệp ôtô, thép, xi măng, thép, điện tử,... ở ta cho thấy rõ điều này. Hơn thế nữa, khoa học - công nghệ, đoạn đầu của chuỗi cung ứng và cái gốc của năng suất lao động, không thể được hoạch định, đầu tư thích đáng. Hậu quả điều này không nhãn tiền, nhưng sau 10-15 năm thì có muốn làm cũng đã lỡ.

Nhìn nhận các mô hình phát triển

Vậy cần mô hình phát triển nào? Đây là thách thức lớn với các nước đang phát triển, nhất là những nước cứng nhắc, không thích ứng kịp với biến đổi. Kinh tế thế giới đang trong quá trình Tái-Định-Hình. Đang có sự Chuyển-Đổi-Mô-Thức lớn về phát triển (paradigm shift). Các nước nhỏ đang phải tự mình tìm đường chứ không thể theo những bài học giáo điều như trước.

Toàn cầu hóa, công nghệ không chờ những người bảo thủ và sơ cứng, nhưng cũng mở ra những mô hình phát triển và cơ hội mới cho số đông nhân loại. Nếu tri kỷ, tri nhân và tri thời, người ta sẽ ít bị ràng buộc hơn vào những điều (tưởng như) bẩm sinh: tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, thậm chí phần nào cả bản ngã nữa. Con người có thêm quyền năng trong việc lựa chọn vận mệnh cho mình.

Trước hết, cần sớm chuyển nền kinh tế sang "chế độ an toàn" (Safe Mode) để duy trì tối thiểu. Chuyển từ định hướng tăng trưởng (kèm với nguy cơ đổ vỡ cao) sang nền kinh tế đủ dùng, tự cung cấp đủ (với tính khả thi cao).

Những nguồn lực dôi ra sau khi đã thu xếp đủ dùng sẽ được bố trí làm cho những chuỗi giá trị cao nhất có thể mà mình làm được. Phải biết mình làm công đoạn nào tốt? công đoạn đó có ở chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng nào? để làm được ta cần học việc thế nào? cách nào để tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng đó,..v..v. Ta có thể làm các chuỗi giá trị mới, dùng các nguyên vật liệu không phải do "nhà trồng", làm ra các sản phẩm còn xa lạ... Ta không làm những gì ta dùng, mà thế giới cần (với giá cao). Chắc là ta không làm trọn một sản phẩm (như đến nay vẫn làm) mà chỉ làm được một (vài) công đoạn mà ta làm tốt nhất.

Với tư duy logic khá, ta có lợi thế khi làm các công đoạn thâm dụng tri thức, nhiều tính toán, lập trình, phân tích-tổng hợp, kỹ năng thiết kế đơn giản, nhiều tính sáng tạo, sự nhanh trí,... Tỷ lệ giữa người làm nông nghiệp với số người phi nông nghiệp, giữa sản xuất vật chất với khối dịch vụ sẽ có thể không "cân đối" trong phạm vi quốc gia vì họ đã đã "gắn" vào các chuỗi cung ứng bên ngoài (mặc dù vẫn ở Việt Nam).

Tất cả những việc trên sẽ có hiệu quả nhất nếu được điều hành bởi nhà nước, đặc biệt trong việc kết hợp chuỗi cung ứng với phát triển vùng, tạo dựng các chùm (clusters) công nghiệp, công nghệ với tính tương tác cao. Việc sản xuất, gia công thuê khoán ngoài (Business Process Outsourcing, BPO) chủ yếu do các công ty tiến hành.

Nhưng ở nhiều nước phát triển, nhà nước phối hợp rất hiệu quả với tư nhân trong việc làm thuê khoán các công đoạn thâm dụng tri thức (Knowledge Process Outsourcing, KPO). Nếu bàn tay "hữu hình" không điều phối được thì chỉ xin không can thiệp, mà tạo hành lang pháp lý vị thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô là đủ.

Cơn bão thực ra mới chỉ bắt đầu. Theo C. Fiorina, nguyên CEO của HP, đây chỉ là "Kết-Thúc của Sự-Bắt-Đầu. Nhân loại đang đi vào Sự-Kiện-Chính khi mà Công-Nghệ thực sự thay đổi mọi phương thức của Nhà-Nước, Xã-Hội và Cuộc-Sống".

Để tìm ra mô hình mới, thứ nhất cần Đổi Mới-Sáng Tạo. Thứ hai, nhưng lại là trước hết, cần đoạn tuyệt với những quan niệm giáo điều, không còn phù hợp, hay như J. Keynes nói "Cái khó không phải là có ý tưởng mới, mà là thoát ra khỏi tư duy cũ". Nhưng, cả hai đều do chính chúng ta.

_______________________

http://vef.vn/2011-07-22-chuoi-cung-ung-va-he-luy-doi-voi-cong-nghiep-hoa

(*) - Tác giả công tác tại Viện Chiến lược - Chính sách Khoa học - công nghệ, email: dtphong@most.gov.vn

Tan vỡ chuỗi cung ứng: Tử huyệt của nền kinh tế

(VEF.VN) - Cho đến nay, ở Việt Nam, cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng vẫn chưa được áp dụng một cách có hệ thống trong quản lý kinh tế của nhà nước cũng như trong hoạch định chiến lược kinh doanh của tư nhân.

LTS: Sau loạt bài viết liên quan đến việc thương nhân Trung Quốc ồ ạt sang mua hàng nông sản Việt Nam, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam, báo VietNamNet xin giới thiệu bài viết của tác giả Đinh Thế Phong (dtphong@most.gov.vn), công tác tại Bộ Khoa học - Công nghệ, với cách tiếp cận rộng hơn, có chiều sâu về chuỗi cung ứng ở Việt Nam - lâu nay vẫn là điểm yếu của nền kinh tế.

Trân trọng giới thiệu với độc giả bài viết này. Mọi ý kiến tranh luận xin gửi về vef@vietnamnet.vn hoặc phần thảo luận phía dưới. Độc giả cũng có thể liên hệ trực tiếp với tác giả qua email trên. Xin cảm ơn.

Cách tiếp cận chuỗi cung ứng một mặt giúp làm ăn hiệu quả hơn; mặt khác, giúp các doanh nghiệp nhỏ, nhà nước yếu tìm ra chỗ đứng tối ưu cho mình để tồn tại trong thị trường khu vực và toàn cầu. Cho đến nay, ở Việt Nam, cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng vẫn chưa được áp dụng một cách có hệ thống trong quản lý kinh tế của nhà nước cũng như trong hoạch định chiến lược kinh doanh của tư nhân.

Điều này đã, đang và sẽ gây những phá sản lớn về kinh tế, kinh doanh, đặc biệt trong thị trường mở và toàn cầu hóa.

Bài này quan tâm đến sự tan vỡ hiện nay của chuỗi cung ứng trong công nghiệp sản xuất - chế biến Việt Nam - trái tim của công nghiệp hóa.

Trước đây, các ngành sản xuất - chế biến Việt Nam bị chặn ở đầu ra do không bán, xuất khẩu được sản phẩm, chủ yếu do giá thành quá cao so với thị trường, ví dụ trong công nghiệp ôtô, điện tử,..v..v.. Gần đây, các ngành sản xuất - chế biến Việt Nam lại bị chặn thêm ở đầu vào vì mua không được nguyên liệu trong nước, ví dụ chế biến thủy sản, rau hoa quả, hạt tiêu,..v..v.

Việc khâu sản xuất Việt bị "cắt đứt" khỏi nguồn nguyên liệu Việt chứng tỏ mối liên kết giữa các bên tham gia là yếu.

Hiện tượng và phân tích

Không mua được nguyên vật liệu cho sản xuất có nghĩa khâu sản xuất không có mới liên kết với khâu nguyên vật liệu, tức là đã bị cắt đứt khỏi chuỗi cung ứng. Có thể kể ra vài nguyên nhân tiêu biểu cho tình trạng này. Trong chuỗi cung ứng của các thị trường lành mạnh, có một (hay một số) công ty mạnh, chiếm ưu thế trong chuỗi cung ứng. Đây có thể là công ty sản xuất hay thương mại. Các công ty này thường đưa ra cơ chế, quy định, "luật chơi" cho cơ chế liên kết, thông tin, hoạt động trong chuỗi cung ứng đó, ví dụ các hệ tiêu chuẩn kỹ thuật, các chuẩn về kế toán, đánh giá, giao nhận (ví dụ các công ty phần mềm Mỹ hay dùng hệ chuẩn CMM - Capability Maturity Model). Việc thống nhất cơ chế hoạt động giúp chuỗi cung ứng trở nên hiệu quả hơn.

Việc khâu sản xuất Việt bị "cắt đứt" khỏi nguồn nguyên liệu Việt chứng tỏ mối liên kết giữa các bên tham gia là yếu. Công ty Trung Quốc thu mua được nguyên liệu của nhà nông Việt chứng tỏ nhà nông Việt đã có liên kết chặt chẽ hơn với khâu sản xuất trong chuỗi cung ứng Trung Quốc. Các nguyên liệu Việt được chế biến, gia công ở công ty Trung Quốc và có thể xuất khẩu mang nhãn Trung Quốc. Nói cách khác: nhà nông Việt đã dần thành nhà cung cấp (supplier) trong chuỗi cung ứng Trung Quốc.

Toàn cầu hóa và sự thống trị của các chuỗi cung ứng mạnh sẽ phá vỡ, xé lẻ các chuỗi cung ứng yếu. Đây là điều tất yếu. Ở đây, các chuỗi cung ứng mạnh của Trung Quốc đang dần cắt đứt nguồn nguyên liệu khỏi khâu sản xuất của các chuỗi cung ứng Việt. Họ thu hút vào chuỗi cung ứng của mình các công đoạn rẻ nhất, hay mang tính cạnh tranh nhất. Họ thu mua nguyên liệu nhiều hơn thuê khoán ta gia công chứng tỏ giá nguyên liệu của ta "rẻ" hơn giá ta gia công sản xuất.

Trong chiến lược quốc gia hay doanh nghiệp, ta vẫn "chê" khâu gia công, làm thuê khoán ngoài, mà muốn sản xuất toàn sản phẩm như trong công nghiệp ôtô, đóng tàu, săt thép, điện tử, chip, công nghệ cao,..v..v. Nhìn khách quan, thực tế với chút hiểu về kỹ thuật - kinh doanh sẽ thấy: nếu vẫn viển vông, không hoạch định một cách nghiêm túc thì không bao lâu nữa, ngành sản xuất của ta có muốn cũng sẽ không được các chuỗi cung ứng mạnh thuê làm gia công nữa. Hay nói khác, lúc đó, vì sinh kế, ta sẽ phải nhận làm các việc gia công rẻ mạt hơn, với giá trị gia tăng thấp hơn các việc ta có thể làm ngày nay nếu hoạch định tốt.

Có thể có nhiều nguyên nhân cho việc không mua được nguyên liệu.

Một là, cơ chế thị trường chưa phát huy tác dụng nên doanh nghiệp chưa thấy lợi. Cơ chế thị trường yếu, lắm thủ tục nhũng nhiều, gây khó cũng làm cho doanh nghiệp muốn mua cũng khó mua được. Đây có thể là nguyên nhân cho (tưởng như) nghịch lý: ta bán than tiểu ngạch với thuế xuất thấp và nhập khẩu than chính ngạch đắt và thuế nhập cao hơn nhiều hay bán sắn tiểu ngạch nhưng lại nhập đến 70% thức ăn gia súc.

Hai là, nguyên nhân này mới là hệ trọng cho công nghiệp Việt, giá thành cho gia công, sản xuất của chuỗi cung ứng Việt đã cao hơn của các chuỗi cung ứng bên ngoài. Nói cách khác, năng suất lao động trong lĩnh vực sản xuất hay của nền công nghiệp Việt thấp hơn nhiều so với chuỗi cung ứng bên ngoài. Nguyên nhân quan trọng nhất (và đáng sợ nhất) cho năng suất lao động thấp là công nghệ lạc hậu so với công nghệ của chuỗi cung ứng bên ngoài.

Vì sao lại đáng sợ hay là tử huyệt của nền công nghiệp? Vì đầu tư nâng cấp cho công nghệ, cho tạo dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp là rất tốn kém và cần phải được hoạch định, thực hiện một cách tập trung, kiên định, nhất quán trong 3-4 thập kỷ, chứ không thể làm trong 5-10 năm hay chỉ có tiền, giàu tài nguyên là được. Đó là trong bối cảnh của nửa cuối thế kỷ 20 khi các thị trường quốc gia còn chưa mở, các quốc gia còn hầu như làm chủ thị trường nội địa và có thể có các chính sách công nghiệp (industrial policy) khôn khéo loại bỏ cạnh tranh nước ngoài, bảo hộ công nghiệp của mình.

Nhưng nay, nền kinh tế đã mở, bảo hộ nội địa không thực hiện được nữa, nhà nước có hỗ trợ nền công nghiệp ôtô nước nhà thì cũng "nuôi béo" trước hết mấy hãng ôtô nước ngoài. Đấy là chưa nói về sự khó khăn, hạn hẹp để nhận biết, chen chân vào được các ngách cơ hội rất hẹp (hay cơ hội cửa sổ, window opportunities, ví dụ thời gian chuyển thế hệ công nghệ, phát sinh các ngành hay công nghệ mới, khả năng bỏ qua giai đoạn, tận dụng cơ hội địa - chính trị... ). Đây là điểm mấu chốt cho thấy nền công nghiệp không thể thể đứng vững trong thị trường mở nếu không dựa vào khoa học - công nghệ.

Thương nhân Trung Quốc sang Việt Nam mua hàng thủy sản (ảnh SGTT)

Người ta có nói đến vì sao các doanh nghiệp Việt không đặt giá cao hơn để mua được nguyên liệu của nhà nông Việt. Đây là điều không thể làm được vì các doanh nghiệp Trung Quốc chắc chắn sẽ chấp nhận mua giá cao hơn ta. Vì sao họ làm được như vậy? Vì trong khâu sản xuất, với công nghệ tốt hơn, năng suất lao động cao hơn, họ làm ra giá trị gia tăng cao hơn ta trong cùng một đơn vị sản phẩm.

Do đó, họ có thể dùng phần lợi nhuận lớn hơn đó để tăng giá mua nguyên vật liệu. Giả dụ trong thị trường giả định với nguồn cung nguyên liệu vô hạn, đây là đủ để họ thắng. Nhưng đây lại một thị trường có giới hạn, họ mua thì ta không có nguyên liệu, vì vậy, sau vài mùa thì rất nhiều khả năng loại bỏ luôn được nền sản xuất Việt cạnh tranh với họ.

Các cơ quan quản lý cũng nói đến việc dùng các biện pháp để làm sao doanh nghiệp Việt mua được nguyên liệu như về hành chính - quản lý, vận động, tác động tư tưởng, phi thị trường, như cử người nắm xem Trung Quốc thu mua gì, bao nhiêu, ở đâu, giá thế nào..v..v. Những biện pháp này không có tác dụng trong nền kinh tế thị trường.

Con đường phía trước

Có thể chia ra các việc nên làm ngay, việc trung hạn và việc dài hạn hơn.

Để ngăn ngừa sụp đổ (Crash), việc cần làm ngay là chuyển hoạt động của nền kinh tế sang "chế độ an toàn" (Safe Mode). Điều này tương tự như máy tính đã được mặc định để khi bị lỗi quá nặng, nó sẽ tự chuyển sang chế độ an toàn để duy trì hoạt động tối thiểu và tránh bị tắt"phụt" hay phải đóng hoàn toàn.

Chế độ an toàn cho nền kinh tế Việt bây giờ là: chuyển từ nền kinh tế hướng tới tăng trưởng sang nền kinh tế đủ dùng, tự tại (tự cung cấp đủ). Tức là chuyển từ định hướng tăng trưởng nhưng đi kèm với nguy cơ đổ vỡ cao sang sự duy trì bền vững và với tính khả thi cao. Đây là điều chắc chắn ta đạt được, nếu muốn.

Theo đó, tư nhân và đặc biệt là nhà nước, không đầu tư lớn cho tăng trưởng (cho làm giàu) mà cho an sinh, bảo đảm đời sống cho dân. Tránh những tư duy "ngành kinh tế mũi nhọn", sản phẩm chủ lực,"rượt đuổi, bắt kịp","đi tắt, đón đầu", vv. Chạy theo tăng trưởng ngày nay cũng tựa như tàu đi trên biển khơi đang đắm mà người trên tàu thì lại lo quăng lưới, đánh cá.

Việc trung hạn là: đánh giá, định vị, nhìn nhận cơ hội và hoạch định một cách khách quan và chuyên nghiệp để làm gia công, thuê khoán ngoài một cách có định hướng. Định hướng ở đây là: đi vào các ngành ta có thế mạnh (có thể về kỹ năng bẩm sinh, kỹ năng rèn luyện, điều kiện đặc thù về vị trí, địa lý, thổ nhưỡng, nguyên liệu,..v..v.. ) hay các lĩnh vực để sau này tạo ra các chùm, cụm (Clusters) về công nghệ hay khu vực địa lý có tính năng tương tác với nhau. Định hướng cũng là việc dự kiến về phát triển một số chuỗi cung ứng hay công đoạn nhất định của chuỗi cung ứng phù hợp với điều kiện của ta.

Ngoài ra, nhà nước làm đúng chức năng, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường. Đúng chức năng gồm lãnh nhận các trách nhiệm từ trước làm chưa tốt như quản lý kinh tế vĩ mô, duy trì sự ổn định vĩ mô, hoạch định phát triển hạ tầng vật chất và khoa học - công nghệ, định hướng cho ghép nhập các doanh nghiệp Việt vào các chuỗi cung ứng khu vực và thế giới...

Đúng chức năng cũng là: không làm các việc không phải của mình, mình làm không hiệu quả, tác động xấu tới thị trường, làm "méo" các giá trị (distort) như không can thiệp hành chính, mệnh lệnh và phi thị trường vào nền kinh tế, không điều hành sản xuất - kinh doanh (không "làm" kinh tế),.. v..v.

Cái nhìn xa hơn là: chọn mô hình phát triển (với các cơ hội cửa sổ mở đóng rất nhanh về thời gian, hẹp về không gian). Đó là chân nhận, đoạn tuyệt với những quan niệm kinh tế giáo điều, không còn phù hợp bối cảnh hiện tại. Đó cũng là tiếp cận nền kinh tế dựa trên tri thức, nền kinh tế sáng tạo - đổi mới, nền kinh tế dịch vụ.